Tết Trung Thu, hay còn được gọi là Tết Trông Trăng hay Tết Thiếu Nhi, là dịp lễ đặc biệt diễn ra vào ngày rằm tháng 8 hàng năm. Cứ vào đêm trăng rằm này, trẻ em lại thích thú chơi rước đèn, nhảy múa, ca hát. Có thể nói đây là một trong những dịp lễ đặc biệt được người Việt Nam ta ăn mừng và gìn giữ từ lâu đời. Hôm nay, Pandakids sẽ cùng các bé tìm hiểu thêm về nguồn gốc của ngày Tết ý nghĩa này nhé!

nguon goc tet trung thu 1

Nguồn gốc Tết Trung Thu

Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755). Sách xưa chép rằng, vào một đêm trăng rằm, khi cùng các quan trong triều uống rượu ngắm trăng, vua Đường ao ước được một lần lên cung trăng, thưởng ngoạn cảnh đẹp nơi đây. Pháp sư Diệu Pháp Thiên sau đó liền tâu xin làm phép để thỏa ý nguyện của vua. Lên đến nơi đây, vua Minh Hoàng được Chúa tiếp đãi nồng hậu, bày tiệc đãi đằng, và còn cho hàng trăm tiên nữ xinh đẹp mặc trang phục với nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên cung trăng, vừa múa hát vừa tươi cười, gọi là khúc Nghê Thường Vũ Y. Vua Đường rất ấn tượng với điệu múa này, ông vừa trầm trồ khen ngợi vừa học thuộc bài hát lẫn điệu múa hòng sau này truyền lại cho các cung nữ trong triều đình. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương dâng tiến triều Đường một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa này có khá nhiều điểm tương đồng với Nghê Thường Vũ Y ông được thưởng thức trên cung trăng, bèn kết hợp hai bài hát và điệu múa lại, làm thành Nghê Thường Vũ Y Khúc. Về sau, các quan trong triều cũng mang điệu múa này tới các thành, huyện nơi họ cai trị, và vì thế mà Nghê Thường Vũ Y Khúc trở nên phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, ca hát nhảy múa vào đêm trăng rằm cũng từ đó mà bắt đầu.
Mang trong mình không khí vui tươi và sức ảnh hưởng tích cực, Tết Trung Thu ngày càng lan rộng đến các nước láng giềng cũng như thuộc địa của Trung Hoa, trong đó có Việt Nam. Tuy không biết thời gian chính sáng, nhưng nước ta đã ăn mừng dịp lễ đặc biệt này từ mấy trăm năm trước. Chỉ cần mới bước vào tháng 8 âm lịch, ta có thể thấy đường phố Việt Nam như khoác lên mình một tấm áo mới. Đèn lồng, bánh nướng, mặt nạ được bày bán khắp mọi nơi. Tất cả các gia đình, ai nấy đều hân hoan, tất bật chuẩn bị cỗ Trung Thu. Trẻ em vui mừng, phấn khởi, cùng bạn bè, hàng xóm rước đèn ông sao, cùng nhau ngân nga các câu hát vang vọng khắp phố phường.

Sự tích chị Hằng Nga

Tích xưa kể lại rằng vào thời xa xưa, trên trời bỗng xuất hiện mười mặt trời, cùng chiếu xuống khiến cho mặt đất nóng đến bốc khói, biển hồ khô cạn, gây thảm kịch cho con người. Chuyện này đến tai vị anh hùng Hậu Nghệ đã khiến anh rất tức tối, không thể nhắm mắt làm ngơ. Anh liền trèo lên đỉnh núi Côn Lôn, dùng nỏ thần bắn rụng chín mặt trời, chừa lại một mặt trời để soi sáng mọi vật. Sau khi chiến công này được lan truyền ra ngoài, Hậu Nghệ nhận được rất nhiều sự ngưỡng mộ và yêu mến từ mọi người. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều chí sĩ mộ danh đã tìm đến Hậu Nghệ tầm sư học đạo, trong đó có Bồng Mông, một kẻ tâm thuật bất chính.

nguon goc tet trung thu 2
Không lâu sau, Hậu Nghệ lấy một người vợ xinh đẹp, tốt bụng, tên là Hằng Nga. Hai vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc bên nhau khiến không ít người phải trầm trồ ngưỡng mộ cặp đôi tài sắc vẹn toàn này.
Vào một hôm lên thăm bạn tại núi Côn Lôn, Hậu Nghệ gặp Vương Mẫu nương nương, bèn xin Vương Mẫu thuốc trường sinh bất tử. Ai uống thuốc này vào sẽ lập tức biến thành tiên và bay lên trời. Không nỡ lìa xa người bạn đời của mình, Hậu Nghệ đã đua thuốc cho Hằng Nga cất giữ. Nàng cẩn thận cất thuốc vào hộp gương lược của mình, nhưng không may đã để Bồng Mông nhìn thấy.
Vài ngày sau đó, lợi dụng lúc Hậu Nghệ dắt học trò đi săn bắn, Bồng Mông giả vờ cáo bệnh, xin ở nhà tĩnh dưỡng. Đợi mọi người đi xa, hắn bèn đột nhập vào hậu viện, dùng kiếm uy hiếp Hằng Nga bắt nàng đưa thuốc trường sinh bất tử. Hằng Nga phần vì không đủ sức chống cự, phần vì không muốn thuốc tiên rơi vào tay kẻ xấu, nên trong lúc nguy cấp đã uống hết thuốc bất tử. Uống xong, nàng bỗng thấy cơ thể nhẹ tênh, dần dần rời khỏi mặt đất và bay lên trời. Nhưng do thương nhớ chồng, Hằng Nga chỉ bay đến nơi gần nhân gian nhất, đó chính là mặt trăng.
Sau khi nghe các thị nữ kể lại chuyện xảy ra. Hậu Nghệ vừa lo lại vừa giận. Anh rút kiếm tìm giết nghịch đồ, nhưng Bồng Mông đã trốn đi từ lâu. Hậu Nghệ phẫn uất nhưng chỉ biết đấm ngực giậm chân kêu khóc. Trong lúc đau khổ, Hậu Nghệ đã ngửa cổ lên trời đêm gọi tên vợ hiền. Khi đó, anh kinh ngạc phát hiện ra, trăng hôm nay đặc biệt sáng ngời, còn có thêm một bóng người cử động trông giống Hằng Nga. Hậu Nghệ vội sai người đến hậu hoa viên nơi Hằng Nga yêu thích, lập bàn hương án, đặt lên đó những món ăn và trái cây mà nàng thích nhất, để tế Hằng Nga nơi cung trăng đang nhớ đến mình.
Sau khi nghe tin Hằng Nga đã lên cung trăng làm tiên nữ, mọi người ai nấy đều lần lượt bày hương án dưới ánh trăng, cầu xin Hằng Nga tốt bụng ban cho sự may mắn và bình an. Tục “bái nguyệt” vào tết Trung Thu cũng từ đó mà được truyền đi trong dân gian.

Bài viết liên quan